Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Nhượng quyền thương hiệu
  Đo lường thương hiệu
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Tình huống thương hiệu >
C2 = COKE 2?
Cập nhật 15-9-2004 00:00
Dù có nhiều người nghi ngờ nhưng những nhà sản xuất Coca-Cola vẫn chắn chắn khẳng định rằng họ sẽ không phạm phải một sai lầm khác như lần tung ra New Coke trong đợt trình làng loại nước ngọt có hàm lượng carbon thấp (low-carb)Coca-Cola C2 sắp tới.

Năm 1985, Coca đã chọc giận nhiều khách hàng trung thành khi tung ra sản phẩm New Coke. Trước phản ứng quá gay gắt của họ, Coca phải sản xuất lại loại nước giải khát có tên là Coca-Cola Classic với công thức cũ. 2 loại sản phẩm này được bán cùng lúc với nhau trên thị trường và sau một thời gian, New Coke đã phải rút lui và Coca-Cola Classic trở về tên hiệu cũ Coca-Cola.

 

Giờ đây Coca-Cola lại có ý định thâm nhập thị trường low-carb, một xu hướng có mà nhiều công ty đang tìm cách chinh phục hoặc đang tìm đường rút lui.

Katie Bayne, phó chủ tịch tiếp thị tổng thể của Coca-Cola ở Atlanta cho biết sự khác biệt lần này là Coca-Cola C2 ra đời với mục tiêu tạo ra một loại nước giải khát hoàn toàn mới, “Chiến lựơc khi tung ra New Coke hoàn toàn khác, New Coke được xem như một sản phẩm thay thế còn C2 thì không. Ngày nay, Coca-Cola được xem là loại nước ngọt được ưa thích trên thế giới, vì vậy chúng tôi không hề có ý định thay thế nó.”

 

Nhằm thực hiện thành công việc xây dựng nhãn hiệu cho C2, công ty đã sử dụng bài hát “You can’t always get what you want” của Rolling Stones (theo như Coca-Cola đã thông báo) và bài “I want to break free” của Queen. Trong quảng cáo có sử dụng 2 bài hát trên là hình ảnh tiêu biểu thường gặp trong các quảng cáo nước giải khát: những con người tự do phóng khoáng.

 

C2 hướng đến các đối tượng trong độ tuổi từ 20 – 40, rộng hơn so với Coca-Cola với nhóm tuổi 18 – 24. “Coca-Cola C2 là sản phẩm dành cho những ai thật sự yêu thích hương vị của Coca nhưng không thể thoải mái uống 6-7 lon mỗi ngày như khi còn trẻ. Chúng tôi mang đến cho họ một sự lựa chọn mới, giờ đây người ta có thể uống tùy thích mà không phải bận tâm đến hàm lượng carbon và calories.”, Bayne giải thích.

 

Cứ 8 ounce C2 thì có 45calories và 12gr carbonhydrate, so với 100 calories và 27gr carbonhydrate của Coca-Cola. Theo lời Bayne, C2 là sản phẩm được tung ra với đầy đủ các yếu tố của nhãn hiệu,”Đó là sản phẩm anh em rất giống với Coca-Cola. Chúng có bề ngoài, hương vị giống nhau và đều đến từ một nhà sản xuất, nhưng chỉ có một loại là được ra đời trước.”

 

Hình ảnh trên bao bì của C2 bao gồm thương hiệu Coca-Cola màu đen trên nền đỏ truyền thống của Coca mang lại sự khác biệt về hình ảnh giữa C2 và sản phẩm chính.

 

Rob Warren, chủ tịch hội doanh nghiệp Asper của trường Đại học Manitoba ở Winnipeg cho rằng Coca-Cola có thể có lý trong việc tung ra C2. “Thị trường nước ngọt cola phát triển rất chậm, chỉ vào khoảng 1% mỗi năm, trong khi đó thị trường nước giải khát low-carb lại có tốc độ phát triển rất nhanh. Đó là một sự đầu tư rất khả quan.”

 

Khi nói về phong trào low-carb, Warren nhận xét,” Đó không phải là mốt nhất thời. Một năm trước khi nó mới bắt đầu, ai cũng cho rằng nó sẽ sớm lắng xuống nhưng ngược lại, nó ngày càng phát triển. Người ta ai cũng muốn giảm cân bằng mọi con đường tắt ngắn nhất có thể.”

 

Warren cũng lưu ý nguy cơ trong trường hợp C2 là từ trước đến nay Coca-Cola vẫn chưa có tiếng tăm gì trong việc lĩnh vực sản xuất nước giải khát dành cho những người ăn kiêng,”Khách hàng có thể nghĩ rằng”Tại sao mình phải nhìn các sản phẩm của Coca theo cách ấy?” Coca không nổi tiếng trong lĩnh vực này. Diet Coke có hàm lượng calorie thấp nhưng C2 lại hướng đến một thị trường hoàn toàn khác. “

 

Bayne cũng nhận thấy sự khác biệt giữa C2 và Coca-Cola, và cho biết khi Diet Coke ra đời vào năm 1982, có một lượng lớn người tiêu dùng muốn có loại nước ngọt với hàm lượng calorie là zero. Thật ra, khẩu hịêu quảng cáo ban đầu của sản phẩm được Bayne miêu tả là “really good tasting diet soft drink” chính là “Just for the taste of it”.

 

Cô nói, “C2 dành cho những người thật sự ưa thích Coca-Cola nhưng lại không thích vị của Diet Coke và họ không sẵn sàng thay đổi khẩu vị của mình dù rằng Diet Coke có hàm lượng calorie thấp.”

 

Nhưng nếu C2 là một sản phẩm Coca có hàm lượng carbon và calorie thấp thì có thể người tiêu dùng sẽ không muốn mua Coca-Cola nữa. Bayne xác nhận cô đã dự tính thị trường Coca-Cola rất có thể sẽ bị C2 nuốt trọn, nhưng cô cũng e ngại một số loại nước giải khác cola và uncola khác, “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng sẽ có sự lấn sân của một số sản phẩm low-carb hoặc non-carbonated khác như nước khoáng hoặc nước trái cây. Tuy nhiên chúng tôi vẫn chủ yếu hy vọng sẽ trở nên lớn mạnh.”

 

Bayne cho biết có khoảng 100 triệu người đang băn khoăn không biết phải chọn sản phẩm nào. Họ là những người rất thích uống nước ngọt nhưng lại không muốn chọn loại dành cho người ăn kiêng. “Những khách hàng này không biết phải lựa chọn thế nào và đây chính là một bước mở rộng thị trường. 15% số khách hàng C2 sắp mang lại sẽ là khách hàng của các loại nước khoáng và các loại nước non-carbonated khác, như nước chanh và nước ép. Chúng tôi sẽ kéo khách hàng trở về với loại nước này hoặc làm tăng thêm số lượng khách hàng hiện tại.”

 

Trong vòng 2 năm, Coca-Cola đã cho ra đời 4 loại sản phẩm cola khác nhau là Vanilla Coke (2002), Diet Vanilla Coke (2002), Diet Coke with Lemon (2001), và đầu năm nay là Diet Coke with Lime (2004).

 

Bayne nhận xét Diet Vanilla Coke đã có một năm thành công trong năm 2003, và loại Diet Coke with Lemon đã được tung ra lần nữa cùng với Diet Coke with Lime và đạt đựơc doanh thu cao. “Chúng tôi luôn cố gắng thoả mãn nhu cầu của khách hàng và khi có thể, thay thế sản phẩm hiện thời với một sản phẩm mới. Trong không gian chật chội trên các kệ ở cửa hàng bán lẻ, chúng tôi luôn cố gắng chiếm được diện tích lớn nhất.”

 

“Tôi không cho rằng các sản phẩm trên sẽ có mặt mãi mãi trên thị trường. Hiện tại, chúng đang rất thành công nhưng trong năm tới có lẽ chúng tôi sẽ có những kế hoạch mới và có thể kế hoạch đó sẽ thay đổi chúng tôi.” Bayne kết luận với một vẻ lạc quan bí ẩn.

 

 Geoff Kirbyson

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
 Các tin khác
  
  Tài trợ bởi
  Các chủ đề liên quan

Thật dễ hiểu khi Gillette là một trong những thương hiệu lớn nhất thế giới: Hãy thử chơi một trò chơi với từ “Gillette” và bạn sẽ cảm nhận được những gì xuất hiện trong đầu: những đường cạo sắc nét, hai từ xuất sắc và hoàn hảo là những từ xuất hiện khi bạn dùng Gillette.
Thị trường điện thoại thông minh (smartphone) đang phát triển bùng nổ, nhưng các nhà sản xuất sẽ mất nhiều công sức để giữ chân khách hàng, vì người sử dụng smartphone không mấy trung thành với thương hiệu mà họ đang dùng. Đây là kết quả một cuộc điều tra do hãng nghiên cứu thị trường GfK của Đức tiến hành.
Thương trường là một chiến trường khốc liệt, ở đây có rất nhiều sự láu cá và dối lừa. Phải làm thế nào để có thể phát hiện được những đối tác không chân thành? Đây là câu hỏi làm đau đầu không ít các chủ doanh nghiệp, đặc biệt là các ông chủ trẻ mới khởi nghiệp.
Nghiên cứu định tính thị trường không hiệu quả ư? Vì sao vậy? Vì bạn không hiểu được nó ư? Vì những nhà quản lí thương hiệu lục tung bảng nghiên cứu của bạn và hét ầm lên : “Chẳng có gì, chẳng có gì cả ” và lí do cũng có thể vì bạn giao phó công việc này cho những người mới vào nghề hay những người không chuyên môn.
Năm 2010 có thể là năm chứng kiến sự bùng nổ trong ngành công nghiệp truyền thông. Đặc biệt, đây sẽ là một năm phát hiện thêm các xu hướng truyền thông lớn.
Dưới đây là lý do tại sao các tài khoản Twitter, Facebook, LinkedIn, YouTube và những chiến dịch truyền thông mạng xã hội khác của công ty bạn không phát huy hết khả năng của chúng.
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2004 cho tới nay đã tăng 8,5%, trong đó giá lương thực thực phẩm tăng hơn 15%. Nhưng nước giải khát lại là một ngoại lệ trong vòng xoáy của giá cả.
Năm 2002, Gucci đạt doanh thu 1.4 tỉ Euro với 205 cửa hàng trong đó có 34 cửa hàng là nhượng quyền với những thương hiệu thuộc mặt hàng da, giày, áo quần may sẵn, ca-ra vát, khăn choàng, trang sức, mắt kính và nước hoa.
Nhãn hiệu là một trong những thành tố quan trọng trong bất kỳ chiến lược tiếp thị của DN thành đạt vì chúng cho phép nhận diện, xúc tiến và chứng nhận các hàng hoá và dịch vụ của họ trên thị trường và phân biệt rõ so với sản phẩm của DN này với sản phẩm của DN khác.
Sức khỏe hiện tại của một công ty được đo lường qua ba chân kiềng: hoạt động kinh doanh, hệ thống và nguồn lực. Trong khi đó triển vọng phát triển lớn mạnh của công ty lại phụ thuộc chủ yếu vào chiến lược.
Trong lĩnh vực bán lẻ, các doanh nghiệp phải đối mặt thường xuyên với việc tìm khách hàng mới, nên đều bị ám ảnh với việc làm thế nào để các nỗ lực quảng cáo, tiếp thị và định giá có thể thu hút được các khách hàng mới. Những nỗ lực này tuy cần thiết nhưng đồng thời có thể lấy đi nhiều nguồn lực hữu hạn của các doanh nghiệp nếu không chọn đúng đối tượng khách hàng để tập trung các hoạt động quảng cáo, tiếp thị thích hợp.
Thời gian qua, giá các sản phẩm điện thoại di động liên tục giảm. Sự xuất hiện của các sản phẩm mới khiến cho giá đã hạ càng hạ hơn.
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này