Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Nhượng quyền thương hiệu
  Đo lường thương hiệu
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Không thể cứ giữ kiểu làm không thương hiệu
Cập nhật 15-1-2007 09:58

Từ thực tế các doanh nghiệp người Việt ở nước ngoài, thử rút ra những bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp trong việc hoạch định chính sách cũng như chiến lược kinh doanh.



Nhìn lại các doanh nghiệp Việt kiều tại các nước đã là thành viên WTO sẽ cho ta một hình ảnh thực, rất cần cho doanh nhân lẫn cho Nhà nước xây dựng quốc sách thích ứng trong môi trường mới. Hiệp định WTO trên thực tế chỉ là một khung pháp lý lấy thế giới làm chuẩn, tự nó không đem lại lợi nhuận, tăng trưởng cho doanh nghiệp, ngoài chính cố gắng của doanh nhân. Bằng chứng là trên dưới ba triệu người Việt với trên trăm ngàn doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường WTO, nhưng hiếm có doanh nghiệp nào tầm cỡ, còn so với mức bình quân của doanh nghiệp nước sở tại lại càng nhỏ nhoi.

 

Đã từng có thời, nói đến người Việt ở Mỹ là nói đến tiệm nail (làm móng) mang lại lợi nhuận và công ăn việc làm cho đông đảo cộng đồng. Nhưng chỉ trong thời gian ngắn, giá làm móng đã tụt xuống còn một nửa. Tương tự, ở Đức sau khi tái thống nhất, nhà hàng người Việt mọc lên như nấm, nhưng sau khi đạt tới đỉnh điểm, chỉ trong vòng vài năm đã tụt về con số khởi đầu. Hiện nay, đến lượt các chợ người Việt ở Đức, Séc, Nga (chưa vào WTO) cũng lại rơi vào vòng xoáy trên, đang cố vật lộn chèo chống. Đó chính là kết cục của lối kinh doanh không hướng tới thương hiệu, nhân công không hướng tới chuyên nghiệp, mà điều này thì không một nhà nước nào có thể thay được chính họ, dù có hay không định chế WTO.

 

Trong khi đó, ở nước người, không cần đến khách hàng khiếu nại, khi tự phát hiện có lỗi, các hãng ô tô đều phải nhanh chóng thu hồi hàng trăm ngàn xe, mặc dù rất tốn kém. Đó là vì uy tín thương hiệu. Ngay Trung Quốc nổi tiếng hàng nhái, nhưng có những hãng sản xuất áo len dành cả một tòa nhà rộng hàng ngàn mét vuông, cao bốn năm tầng để trưng bày mẫu mã từ mười năm trước đến mẫu hiện tại, để đối tác có cơ sở so sánh đối chiếu, yên tâm chọn lựa. Tin cậy cấu thành uy tín thương hiệu. Các hãng lớn từ may mặc, giày dép, đến đồ điện tử vi tính, chế tạo máy, ô tô, máy bay luôn tung ra các sản phẩm mới cho dù sản phẩm cũ đang còn bán rất chạy. Một đất nước không luôn đổi mới sẽ tụt hậu bất kỳ lúc nào; một thương hiệu sản phẩm không tự làm mới, sẽ không tồn tại.

 

Về lao động, doanh nghiệp người Việt sử dụng chủ yếu lao động người Việt. Thời tiệm nail ở Mỹ đang phất, ai muốn cũng có thể thành chuyên gia nail ngay. Nhà hàng Á châu ở Đức cũng thế, bỗng dưng đâu cũng thấy xuất hiện đầu bếp Á châu, bởi họ chỉ cần vài tháng phụ bếp đâu đó là đã có thể xưng danh nơi khác. Trong khi người bản xứ, chắc không dốt hơn người Việt, sau khi học còn phải thực tập hàng năm trời không lương. Hậu quả, cùng một nhà nước, cùng một công việc, lương lao động người Việt rất thấp, dĩ nhiên đi liền với chất lượng kém, do không chuyên nghiệp. Một doanh nghiệp với đội ngũ nhân công không chuyên như vậy, muốn phát triển thương hiệu cũng không thể. 

 

Về môi trường, tiếng là kinh doanh trong WTO, nhưng một tờ báo Đức đã phải kết luận, các trung tâm thương mại người Việt là một xã hội khép kín, ngầm hiểu, luật pháp và tập quán kinh doanh nước sở tại khó thâm nhập, nói gì đến  định chế WTO. Khi luật pháp thiếu vắng, thì thỏa thuận ngầm sẽ thay thế, chi phối; nhà nước chỉ có thể can thiệp khi tự nó bị bung vỡ.

 

Những người Việt chọn hướng kinh doanh không thương hiệu, không chuyên nghiệp cũng có lý do, bởi nhờ đó họ có thu nhập tức thì, rất cần để vượt qua con số không ban đầu. Sau đó, một mặt gần như do thói quen ít chịu vận động, thay đổi của đa số người Việt, mặt khác kinh doanh khi còn manh nha, nhỏ nhoi chưa động chạm mấy đến lợi ích của người khác, được người ta dễ cho qua mọi sự, tạo nên tâm lý dễ kiếm ra tiền, càng không muốn thay đổi. Tuy nhiên, khi đã vượt qua con số không, lớn dần lên, kinh doanh của họ lập tức đụng chạm mạnh đến lợi ích người tiêu dùng (hàng giả, hàng kém phẩm chất) đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh (hàng phá giá, hàng vi phạm bản quyền) đến lợi ích nhà nước (trốn thuế, gian lận, làm chui), mà phía bị thiệt hại đã không thể im lặng như trước nữa. Hậu quả, nhiều doanh nghiệp người Việt hễ nổi lên là vướng ngay pháp luật, của thiên trả địa, trở về vạch xuất phát ban đầu, chưa nói đến mắc vào vòng lao lý khó gỡ.

 

Thực trạng trên cho thấy tính đặc thù trong kinh doanh của người Việt rất cần những đối sách thích ứng, không nên trông chờ vào WTO quá nhiều. Không phải ngẫu nhiên, mà đồng loạt từ Đức đến Pháp rồi sang Nga, sang Mỹ, càng ngày người ta càng phải thắt chặt các biện pháp hòa nhập đối với người nước ngoài sống ở nước họ, sẵn sàng dành kinh phí để đào tạo, tư vấn, hỗ trợ, để người nhập cư cùng doanh nghiệp của họ được và phải như người bản xứ, nhằm khắc phục thực trạng nói trên. Từ đối sách này của họ, có thể ngoại suy, muốn cạnh tranh được với thế giới, doanh nhân và người lao động nước ta cần được Nhà nước tăng cường đầu tư hỗ trợ đào tạo hơn nữa; nhất là nguồn lực phải tiệm cận dần với chuẩn quốc tế.

 

Song song đó, cần nhanh chóng tạo ra một nền kinh tế thị trường thích ứng với môi trường WTO. Con đường ngắn nhất để đạt tới điều đó là: sự tham gia của lực lượng doanh nghiệp nước ngoài phải đủ lớn. Với việc hạn chế sự tham gia của phía nước ngoài thì lợi ích doanh nghiệp trong nước thu được chưa hẳn đã bù được thiệt hại do những thuộc tính cố hữu, không buộc tự lột xác để phát triển theo chuẩn quốc tế. Mặt khác, dù doanh nghiệp nước nào kinh doanh ở Việt Nam thì kết quả kinh doanh của họ cũng đóng góp không ít cho nền kinh tế Việt Nam. Do vậy, cần coi doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam là của Việt Nam, không nên phân biệt, và chỉ với quan điểm đó mới tạo dựng được thị trường thế giới ngay tại Việt Nam và qua đó doanh nghiệp Việt Nam mới có thể phát triển nhanh. WTO cho ta cơ hội đó!       

 

Cần coi doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam là của Việt Nam, không nên phân biệt, và chỉ với quan điểm đó mới tạo dựng được thị trường thế giới ngay tại Việt Nam và qua đó doanh nghiệp Việt Nam mới có thể phát triển nhanh. WTO cho ta cơ hội đó!

 

Theo TBKTSG

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này