Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Nhượng quyền thương hiệu
  Đo lường thương hiệu
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Nhìn lại nền kinh tế Mỹ
Cập nhật 12-2-2006 17:39

Một nền kinh tế với nhiều kỷ lục

 

Mỹ có nền kinh tế thị trường lớn nhất thế giới - năm 2005, GDP của Mỹ ước tính đạt hơn 12.000 tỉ đô la (theo thời giá). Đó là một tổ hợp gồm 20 triệu công ty lớn nhỏ, trong đó có nhiều công ty xuyên quốc gia với doanh số từ vài chục tỉ đến một, hai trăm tỉ đô la.     



Hiện ở Mỹ, các ngành không trực tiếp sản xuất ra hàng hóa gồm thương mại, giao thông vận tải, ngân hàng đã tạo ra đến 70% GDP, trong khi tỷ trọng của các ngành như nông nghiệp còn khoảng 3%; các ngành công nghiệp chế tạo truyền thống như dệt may suy giảm từ những năm 1970; ngành ô tô tuy vẫn là ngành quan trọng nhưng đang có nguy cơ phá sản vì bị cạnh tranh gay gắt về giá bán.

 

Đặc trưng của kinh tế Mỹ là có một thị trường vốn rất phát triển. Thị trường chứng khoán Mỹ có tổng giá trị lên đến 33,4 ngàn tỉ đô la, tức gấp gần ba lần GDP của một năm. Riêng giá trị của thị trường chứng khoán New York đã là 20.000 tỉ đô la, với hơn 2.000 công ty niêm yết, giao dịch có ngày lên đến hơn 2,5 tỉ cổ phiếu. Hơn một nửa dân số Mỹ tham gia đầu tư tại các thị trường chứng khoán, trong khi đó sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài cũng ngày càng tăng. Tính đến tháng 4-2005, các nhà đầu tư ngoại quốc sở hữu 38% trái phiếu chính phủ Mỹ, 23% trái phiếu của các công ty Mỹ và 11% trái phiếu của các tổ chức, các quỹ của Mỹ.

 

Đồng đô la của Mỹ vẫn là đồng tiền thanh toán quốc tế thịnh hành nhất. Hiện khoảng 60% tiền mặt đô la lưu hành ở ngoài nước Mỹ; tất cả thanh toán trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng thế giới đều bằng đô la Mỹ. Trong điều kiện đó, tỷ giá đô la luôn là một vấn đề mấu chốt trong quan hệ kinh tế thương mại của Mỹ với bên ngoài, là một nội dung chủ yếu của các cuộc gặp G7/G8 hàng năm. Mỹ và các đối tác của Mỹ có thể mất hoặc được lợi hàng tỉ đô la, và sức cạnh tranh kinh tế có thể bị tác động lớn chỉ vì sự thay đổi tỷ giá đó chứ không phải do kết quả của sản xuất trực tiếp. Vì vậy chính sách tiền tệ và quan hệ với thị trường vốn và tài chính thế giới ra sao là một vấn đề đại sự trong nền kinh tế. Việc đa số các nước đến nay dự trữ ngoại tệ chủ yếu bằng đô la Mỹ mang lại lợi thế cho Mỹ (tuy cũng có mặt khác, làm đồng tiền Mỹ tùy thuộc tình hình bên ngoài). Gần đây Trung Quốc và một vài nước đã tính đến đa dạng hóa dự trữ đó qua các đồng tiền khác để tránh rủi ro lớn nếu giá đô la tụt giảm do tình trạng thâm thủng các cân đối tài chính của Mỹ.

 

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ hiện chiếm khoảng 25% GDP, là mức không phải cao trên thế giới, nhưng giá trị tuyệt đối là rất lớn. Ví dụ, hàng năm Mỹ nhập khẩu 72-76 tỉ đô la hàng dệt may, 15 tỉ đô la giày dép, 25-27 tỉ đô la đồ gỗ... Thành thử khi vào thị trường Mỹ, hầu như không mấy ai lo nghĩ đến sức mua. Xã hội Mỹ vẫn nổi tiếng là xã hội tiêu dùng với nhiều mức thu nhập khác nhau; mức tiêu dùng chứ không phải mức tiết kiệm cá nhân của người Mỹ (chỉ 2-3%) mới là yếu tố thúc đẩy kinh tế phát triển.

 

Sự phát triển của nền kinh tế Mỹ gắn liền với sự cạnh tranh buộc các công ty phải luôn năng động và cải tiến để tồn tại và đi lên. Kể từ vụ tranh chấp buôn bán gay gắt nhất về chè nhập khẩu với mẫu quốc Anh vào tháng 12-1773 đến nay, nền kinh tế Mỹ đã trải qua 232 năm với sự cạnh tranh không ngừng và ngày càng quyết liệt.

 

Điều tiết thị trường theo kiểu Mỹ

 

Nhiều người vẫn cho rằng Mỹ có nền kinh tế tự do nhất so với các nước khác. Điều đó có lẽ chỉ đúng một phần. Thực tế là nhà nước Mỹ cũng như bất cứ nhà nước nào đều phải chú tâm vào sử dụng các công cụ thị trường để điều tiết. Cái khác là liều lượng và nghệ thuật sử dụng những công cụ đó trong những điều kiện cụ thể của từng nước tùy tình hình kinh tế và mục tiêu của chính phủ, và do đó đưa đến những hiệu quả khác nhau. Thước đo trình độ phát triển cũng như quản lý kinh tế không có gì quan trọng bằng chỉ số năng suất lao động, và sự khác biệt cuối cùng và lớn nhất là ở khâu phân phối kết quả do nền kinh tế đất nước làm ra.

Tháng 1-2006, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ Greenspan, người được coi là nhà điều hành thành công nhất nền kinh tế Mỹ, về hưu sau hơn 18 năm đảm nhiệm chức vụ này qua bốn đời tổng thống. Những kết quả điều hành kinh tế trong “kỷ nguyên Greenspan” có ý nghĩa đến mức làm nảy sinh dư luận về một giai đoạn phát triển “không chắc chắn” của kinh tế Mỹ trong thời gian tới! Trong gần hai thập kỷ qua, kinh tế Mỹ đã phát triển khả quan, trải qua ba chu kỳ rưỡi lên xuống, ngoại trừ năm 1991 là GDP âm 0,2%, còn lại đều có chỉ số tăng dương, trong đó có 11 năm đạt từ 3,5 đến 4,5%. Lạm phát được kiểm soát trong khoảng 6,4% (1990) - 2,3% (năm tài chính 2004) so với trên 12% những năm 1970. Năng suất lao động gần như tăng ổn định, đạt từ 3,4% đến 4% trong bốn năm gần đây (2000-2004).

 

Suốt thời Greenspan, trong “rổ công cụ kinh tế thị trường” thì lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô được coi trọng hàng đầu. Thông qua việc tăng giảm lãi suất của Ngân hàng Trung ương, các nhà điều hành kinh tế Mỹ tác động vào dòng vốn đầu tư trong xã hội, và sau đó đến toàn bộ nền kinh tế nói chung nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng đi liền với kiềm chế lạm phát. Phương châm cơ bản trong học thuyết điều tiết của Greenspan là “sự linh hoạt” (flexibility). Ông cho rằng: “Cần biết dựa vào thị trường để tránh phải tiến hành những điều chỉnh lớn (theo ý chủ quan của chính phủ)... Và nền kinh tế có sự linh hoạt càng cao thì khả năng đề kháng càng mạnh trước những biến cố bất thường không dự đoán được; sự linh hoạt đã giúp Mỹ đối phó với sự mất giá đột ngột của thị trường chứng khoán, với các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và những hậu quả của các cuộc tấn công khủng bố trong những năm qua”. (Washington Post 15-11-2004).

 

Mấy năm nay kinh tế Mỹ đang mắc lại những căn bệnh thâm hụt nghiêm trọng về ngoại thương, cán cân thanh toán và ngân sách. Tuy nhiều nhà kinh tế đang thúc giục can thiệp mạnh để tránh tình huống xấu, nhưng Greenspan vẫn cho rằng trong khi các thâm hụt vẫn chưa đến mức báo động (còn dưới 5% GDP), nhịp độ tăng trưởng kinh tế vẫn khả quan (3-4%), các chỉ số về lạm phát, thất nghiệp vẫn trong tầm kiểm soát (4,7% và 5% tương ứng vào tháng 9-2005), thì độ hấp dẫn về đầu tư của thị trường Mỹ vẫn cao, và do đó các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đổ vốn vào Mỹ. Mỹ dùng nguồn vốn này cân đối lại các thâm hụt của mình, tiếp tục chấp nhận tình trạng nợ lớn. Đến hết năm 2004, riêng chính phủ các nước châu Á đã mua 1,1 ngàn tỉ đô la trái phiếu chính phủ Mỹ, tăng 22% so với năm trước đó; tính đến tháng 9-2005 Nhật Bản mua của chính phủ Mỹ 687 tỉ, Trung Quốc 252 tỉ và Anh 182 tỉ đô la chứng khoán.

 

Song cái gì cũng có mặt trái và giới hạn. Bản thân ông Greenspan mới đây đã cảnh báo chính phủ Mỹ cần gia tăng tiết kiệm chi tiêu. Lãi suất của Ngân hàng Trung ương Mỹ sau khi đã điều chỉnh lên đến 4,5%, thì dư địa nâng tiếp không còn nhiều vì kinh tế đã có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại (biểu hiện qua sự nguội xuống của thị trường địa ốc), và lạm phát gia tăng. Dự đoán lãi suất tối đa có thể nâng lên đến 5% trong năm nay. Từ năm 2007, kinh tế Mỹ sẽ khó tránh sự chững lại do chu kỳ phát triển. Ngân sách Mỹ cũng  khó hơn nhiều bởi gánh nặng an sinh và bảo hiểm xã hội tăng vọt từ năm 2008 do số người sinh sau Thế chiến II về hưu hàng loạt. Kinh tế Mỹ càng phát triển thì những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường càng nổi lên và tác động xã hội, đặc biệt là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Trong bốn năm qua, tuy kinh tế phát triển khả quan, có hơn 4 triệu người Mỹ rơi vào tầng lớp nghèo, làm tỷ lệ người nghèo tăng từ 11,3% năm 2000 lên đến 12,7% năm 2004.

 

Tác động của toàn cầu hóa

 

Và có một điều mới xuất hiện, mà dù Mỹ là một siêu cường kinh tế-công nghệ cũng không tránh được. Đó là những tác động sâu rộng nhiều mặt của toàn cầu hóa.

 

Tuy Mỹ có nhiều lợi thế để tận dụng và thúc đẩy toàn cầu hóa có lợi nhất cho mình, nhưng sự phát triển nhanh chóng và khách quan của toàn cầu hóa, sự gia tăng tùy thuộc về kinh tế giữa các nước cũng đang gây cho Mỹ không ít vấn đề. Nếu nói Mỹ thua trên thị trường nội địa thì đó là một phần sự thật. Hiện ở Mỹ tràn ngập hàng tiêu dùng Trung Quốc giá rẻ, và các nhà kinh tế đánh giá điều đó đã trở thành yếu tố không thể thiếu cho kinh tế Mỹ phát triển với lạm phát thấp. Sự khủng hoảng của nhiều ngành công nghiệp truyền thống do bị cạnh tranh về giá thành là thêm những thí dụ nữa. 

 

Trước sự đấu tranh của quốc tế đòi hỏi thiết lập các quan hệ kinh tế bình đẳng, cùng có lợi, Mỹ cũng bị sức ép phải giảm trợ cấp, hoặc bãi bỏ những quy định luật pháp bảo hộ không công bằng đối với một số ngành sản xuất trong nước. Và giờ đây phương cách kinh doanh “sản xuất bất cứ đâu và bán bất cứ đâu” (miễn là có lợi nhuận cao) của các công ty Mỹ do toàn cầu hóa “thúc giục” đang là yếu tố nhiều khi vượt khỏi mong muốn chính trị của chính phủ. Dòng đầu tư Mỹ tiếp tục vào Trung Quốc trong khi tình trạng thâm hụt thương mại kỷ lục với nước này đang là vấn đề nổi cộm của quan hệ Mỹ-Trung mà Mỹ muốn xử lý bằng cách đòi Trung Quốc nâng tỷ giá đồng nhân dân tệ... Toàn bộ tình hình này càng không đơn giản khi dù là siêu cường, nhưng Mỹ chỉ còn chiếm hơn một phần tư GDP của thế giới so với một nửa vào thời hoàng kim sau Thế chiến II.

 

 

Theo TBKTSG

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
  Tài trợ bởi
  Các chủ đề liên quan
Trong suốt quá trình chúng tôi phát triển cơ cấu quan hệ thương hiệu cho một khách hàng trong lĩnh vực bất động sản, chúng tôi nhận thấy hầu hết các thương hiệu nhánh của họ đều liên quan đến lĩnh vực kinh doanh chính của họ, tuy nhiên có hai thương hiệu lại không hề liên quan.
Có mối quan hệ nào giữa ngôn ngữ và kinh tế? Câu hỏi tưởng chừng vu vơ này thật ra rất đáng suy ngẫm, nhất là trong thời toàn cầu hóa, biên giới ngăn cách giữa các quốc gia đang lần lượt bị hạ thấp.
Mười năm trước, tài năng công nghệ thông tin của người Ấn được công nhận đã tạo nên cuộc đổ bộ của các tập đoàn đa quốc gia như Microsoft và IBM cùng chuỗi những khách sạn quốc tế như Hyatt, InterContienetal và Hilton. Với vô số những thương hiệu đua nhau giành chỗ đứng trong ngành nhà hàng – khách sạn đang đâm chồi nảy lộc ở Ấn Độ hiện nay khiến các thương hiệu trong nước như Taj Hotels, Oberoi Hotels và Leela Hotels and Resorts phải cạnh tranh khốc liệt.
Quảng cáo trên mạng internet không còn xa lạ, chúng ta dễ dàng nhìn thấy những mẩu quảng cáo này hàng ngày trên nhiều trang web khác nhau.
Nếu khách hàng hoặc đối tác thường xuyên tặng quà hay chọn những chỗ ầm ĩ để tiến hành đàm phán thì hãy cẩn thận, có thể họ đang định lôi kéo bạn vào những thương vụ bất lợi. Làm thế nào để tránh được điều này?
Quả thật, không chỉ có người Ý hay người châu Âu mới biết thưởng thức và mới pha được những ly cà phê Capuchino hay Espresso. Howard Schultz đã làm được điều đó với những thành công diệu kỳ mà người ta phải thán phục và ghen tị.
Nhiều hành khách đi máy bay của JetBlue đã giật mình khi nhận ra họ được chính người sáng lập ra hãng phục vụ. Họ còn ngạc nhiên hơn khi chứng kiến ông đứng liền 3 giờ đồng hồ trong suốt cuộc hành trình dài mấy ngàn cây số để lần lượt gặp gỡ hơn 100 khách hàng có mặt trên chuyến bay.
 Hachi-Hachi là chuỗi siêu thị đồng giá Nhật Bản lần đầu tiên được giới thiệu tại thị trường Việt Nam. Hiện tại, mô hình cửa hàng đồng giá này đã có trên 800 cửa hàng trên toàn thế giới.
Với giới trẻ, bạn rất khó hình dung một thị trường cụ thể. Họ cũng có hàng loạt sở thích và thái độ giống như những nhóm tuổi khác, vì vậy bạn có thể đặt họ vào bất kì ô thị trường nào.
Lời khuyên này thực sự đã được áp dụng rộng rãi trong những năm gần đây dù các công ty vẫn đang cố tìm hướng quản lý được những mối quan hệ với các khách hàng theo những cách tinh vi hơn. Lý do chính cho ý tưởng này hoàn toàn từ những “khách hàng giá trị thấp” (low–value customer), đó là những người hiếm khi bỏ tiền ra cho những dịch vụ hoặc các sản phẩm trong khi luôn sẵn sàng nhấn số máy điện thoại của công ty đó để tra hỏi hay phàn nàn, dù cho chi phí gọi điện còn tốn hơn cả tiền mua hàng hay sử dụng dịch vụ. Vậy tại sao không “bỏ họ đi cho nhẹ nợ” và chỉ cố gắng tập trung mối quan hệ khách hàng vào những cá nhân mang lại nhiều lợi nhuận hơn? Còn để có một sự thay đổi, thì sao lại không thử ít nhất một lần xem có làm gia tăng được giá trị cho hãng từ chính những khách hàng giá trị thấp đó không? Bởi nếu một hãng có toàn những khách hàng giá trị, luôn có ý tưởng mới thì chắc lợi nhuận và giá cổ phiếu của hãng đó sẽ được gia tăng.
Ngày nay nhiều công ty và nhãn hiệu liên tục tái điều chỉnh lại công việc kinh doanh của họ và định vị chúng cho sự phát triển. Sự điều chỉnh cần thiết để cách tân, phục hồi, cập nhật, định chuẩn lại, hay đơn thuần chỉ là chống chọi với áp lực cạnh tranh trong nỗ lực giải thích rõ ràng hơn về việc “tại sao lại chọn tôi.”
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này