Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Nhượng quyền thương hiệu
  Đo lường thương hiệu
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Tìm lối ra cho ngành chè
Cập nhật 25-7-2005 03:59

Nằm trong top 10 quốc gia có ngành chè phát triển nhất thế giới, song mức giá xuất khẩu của chè Việt Nam lại chỉ bằng trên dưới 70% so với nhóm các nước xuất khẩu chè. Vậy con đường nào để ngành chè chấm dứt tình trạng này?



Ông Nguyễn Kim Phong, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam đã có cuộc trao đổi với chúng tôi về vấn đề này.

Thưa ông, cuối năm 2004, Bộ VH-TT đã cấp bản quyền tác giả văn hoá - nghệ thuật cho logo Chè Việt, và ngày 6/6/2005 vừa qua, Bộ KH-CN cũng đăng bạ thương hiệu quốc gia chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho Chè Việt. Điều này có ý nghĩa gì đối với chè Việt Nam?

Để nâng cao vị thế của ngành chè Việt Nam trên thương trường trong nước và quốc tế, thông qua đó nâng cao giá trị của chè sản phẩm trong thương mại, đem lại lợi ích chính đáng và hợp pháp cho người sản xuất và kinh doanh chè, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận, Bộ thương mại đã phê duyệt cho Hiệp hội chè Việt Nam xây dựng thương hiệu Chè Việt. Logo chè Việt Nam là một loại ấn chỉ xác nhận chất lượng sản phẩm phù hợp với các quy định của Nhà nước Việt Nam và quy chế của hiệp hội.

Tất cả các loại chè được chế biến từ nguyên liệu chính là búp, lá cây chè, tất cả các cơ sở chế biến chè, nếu tuân thủ các quy định trong quy chế của hiệp hội, đều được sử dụng logo chè Việt. Các quy định gồm có: đạt tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành (TCVN); đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam; hàm lượng kim loại nặng không vượt quá quy định cho phép; dư lượng thuốc trừ sâu trong sản phẩm không vượt quá quy định cho phép; thuỷ phần trong sản phẩm tại thời điểm đóng bao bì không quá 5%; bao bì phải đạt TCVN.

Chúng tôi đã đăng ký thương hiệu Chè Việt tại 24 nước châu Âu theo Hiệp định Madrid. Như vậy, thương hiệu quốc gia chè Việt Nam chính là chứng chỉ chất lượng khi đưa vào lưu thông, cần gắn việc quảng bá thương hiệu với nâng cao chất lượng sản phẩm. Trước mắt phải tập trung vào cả 3 khâu: khâu chế biến phải có công nghệ tiên tiến; khâu thương mại cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, sớm ra đời sàn giao dịch chè nhằm đáp ứng thường xuyên và kịp thời thông tin cần thiết cho các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý trong và ngoài nước.

Để đạt được mục tiêu trên, cần coi trọng chất lượng thì thương hiệu Chè Việt mới được tôn vinh, cần ổn định chất lượng nâng cao chất lượng, thường xuyên quảng bá thương hiệu thì ngành chè mới được thịnh vượng.


Vậy hiện nay, ngành chè đã nâng cao và ổn định chất lượng chưa?

Đến hết năm 2004, diện tích trồng mới ở cả nước có chậm lại, nhưng chất lượng trồng mới được quan tâm hơn trước. Diện tích chè cả nước đạt gần 122.000 ha, tăng 5.870 ha, kim ngạch xuất khẩu đạt 100,9 triệu USD, giá bình quân 961 USD/tấn.

Có 69 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu chè Việt Nam, có 15 thị trường lớn nhập khẩu 80% chè Việt Nam, trong đó có 4 thị trường nhập khẩu trên 10.000 tấn là Ấn Độ, Đài Loan, Pakistan và Iraq. So với năm 2003, vừa qua thị trường Nga tăng từ 1.900 tấn lên 7.469 tấn, Iraq từ 3.480 tấn lên 11.784 tấn, Mỹ từ 1.240 tấn lên 3.095 tấn, Trung Quốc nhập khẩu 8.268 tấn (cả tiểu ngạch). Riêng chè xanh, năm 2004 ta cũng xuất khẩu được 34.133 tấn (chưa kể tiểu ngạch), trong đó có 6 thị trường mua 500 tấn là Pakistan, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc và Nhật Bản.

Đầu năm 2005, thời tiết biến động phức tạp kéo dài ở các vùng chè lớn Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và một số vùng chè nhỏ, làm chè giảm 10% sản lượng so với hàng năm, làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả biện pháp thâm canh. Đến hết tháng 4/2005, Việt Nam đã xuất khẩu 21.467 tấn, đạt gần 20,4 triệu USD, giá bình quân 947 USD/tấn là thấp.

Tuy nhiên, có một vài công ty đã sản xuất được sản phẩm bán giá cao, như Công ty Tân Đại Phát bán 68 kg chè, giá 11,345 USD/kg.

Nhưng ngành chè đang đứng trước nhiều thách thức. Trước hết, sản phẩm chè Việt Nam còn nhiều khuyết tật, không ổn định chất lượng. Nguyên nhân chính là do phá vỡ cân đối vùng nguyên liệu. Trước năm 2000 cả nước có khoảng 120 nhà máy gắn với vùng nguyên liệu, thành các xí nghiệp nông – công nghiệp. Đến nay, đã tăng 9,4 lần với 650 nhà máy, dẫn đến tình trạng cạnh tranh quyết liệt nguyên liệu, dẫn đến nguy cơ phá huỷ vùng nguyên liệu, do chè hái không theo tiêu chuẩn quy định.

Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và thứ 8 về sản lượng chè trên thế giới, đứng thứ 2 trong ASEAN sau Indonesia. Nhưng, theo thống kê của Uỷ ban chè quốc tế, giá chè Việt Nam chưa bằng một nửa giá của Sri Lanka và Ấn Độ, giá chè Trung Quốc cũng cao hơn 45% so với chè Việt Nam. Trong 20 nước xuất khẩu chính, Việt Nam có vị trí cao hơn Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina, nhưng giá chỉ bằng 60% của 20 nước này. Trong vòng 7 năm qua, giá bình quân chè xuất khẩu của Việt Nam giảm 50%, bởi vì Việt Nam không sản xuất ra loại chè có chất lượng mà khách hàng thế giới cần.


Quả là ngành chè còn rất nhiều việc phải làm. Xin ông cho biết những giải pháp sắp tới?

Trước mắt, cần phải khắc phục tình trạng cạnh tranh, chặn đứng tình trạng cắt ghép phá chè. Doanh nghiệp phải chứng minh được vùng nguyên liệu, đã đầu tư và ký hợp đồng theo Quyết định 80 của Chính phủ, tương ứng với sản phẩm của mình. Đây là vấn đề đã và đang cực kỳ khó khăn, vì tuỳ thuộc vào các tỉnh có quyền cấp phép cho doanh nghiệp, cũng như chưa có chế tài có hiệu quả trong mối quan hệ “4 nhà”. Theo chúng tôi, các doanh nghiệp nếu không đầu tư vào trồng mới chè, thì không được cấp phép kinh doanh.

Những người làm nguyên liệu đã ký hợp đồng, nếu không thực hiện nghiêm chỉnh, sẽ bị phạt. Các doanh nghiệp mua tranh bán cướp nguyên liệu sẽ phải nộp thuế trên từng kg nguyên liệu, cũng như cần được xem xét lại giấy phép kinh doanh. Ngành chè cấp bách đổi mới cơ cấu giống, cố gắng đạt 40-50% giống tốt đến định hình. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp và thuỷ lợi phải tập trung vào các giải pháp cải tạo đất, tưới nước, trồng cây bóng mát, cây phân xanh, tiến hành tốt các khâu kỹ thuật thâm canh. Hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ngành chè còn bắt buộc phải đa dạng hoá sản phẩm gắn với nhu cầu thị trường, cho nên phải có sản phẩm mới theo công nghệ hiện đại nhất đối với từng thị trường.

 

Theo vneconomy

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này